Sát Cục Lan Đình Tự – Vương Giác Nhân
Quyển 1 - Chương 2: Bạch y
Tháng giêng năm Trinh Quán thứ mười sáu, Thái Cực Cung, Cam Lộ Điện.
Buổi sớm, tuyết lớn vừa tạnh. Ánh nắng dịu dàng xuyên qua hàng cửa sổ dài chạm hoa cùng cánh cửa điện rộng mở tràn vào, tăng thêm vài phần ấm áp cho đại điện.
Lúc này, Thái Tông Lý Thế Dân đã bước vào tuổi trung niên, vóc dáng hơi đẫy đà, đang chăm chú cúi đầu trước án lâm thiếp, quản bút tử hào bằng ngà voi chạm ngọc phỉ thúy trong tay ngài rồng lượn hổ vờn trên trang giấy tuyên trắng tinh. Chỗ hạ mực, nét bút cứng cáp dồi dào, khí tượng hùng vĩ. Bộ thiếp mà ngài đang mô phỏng chính là bức hành thư nổi tiếng của Vương Hi Chi lưu lại cho đời: “Khoái Tuyết Thời Tình Thiếp”. Bức thiếp này chỉ có bốn dòng, vỏn vẹn hai mươi tám chữ. Lý Thế Dân lặp đi lặp lại từng lần trên dải giấy dài trải rộng, viết mãi cho tới tận mép giấy tuyên mới dừng bút trong niềm hứng khởi chưa thỏa.
“Đại gia, ngài thật sự ngày càng đắc được tam muội trong thư pháp của Hữu quân rồi!” Nội thị Triệu Đức Toàn đứng hầu bên cạnh vừa khom người đón lấy ngọn tử hào gác lên giá bút, vừa vội vàng buông lời tán thưởng, “Ngài xem chữ này mà xem, từng chữ như phượng múa rồng bay, quả thực khiến người đời khuynh đảo, chúng sinh ngưỡng mộ khôn xiết!”
Lý Thế Dân ngắm nghía tác phẩm của mình, khó giấu nổi vẻ đắc ý, miệng lại bảo: “‘Phượng múa rồng bay’ là lời tán tụng Trẫm dành cho Vương Hi Chi, lá gan của ngươi cũng không nhỏ đâu, lại dám đem lời đó nói với Trẫm?”
Triệu Đức Toàn che miệng cười: “Lão nô vụng miệng vụng lời, lại thêm ngực chẳng có nửa giọt mực, đành phải mượn lời khen ngợi của ngài để dùng thôi, xin Đại gia thứ tội!”
Lý Thế Dân liếc hắn một cái: “Nói sai lời, tự vả miệng đi.”
“Vâng, lão nô đáng đánh, lão nô đáng đánh.” Triệu Đức Toàn cười cười, làm bộ vỗ vỗ mấy cái vào mặt mình.
“Thu bức thiếp này lại đi, đổi cho Trẫm một bức thảo thư.” Lý Thế Dân cử động cổ tay, vươn vai mấy cái.
“Tuân chỉ.” Triệu Đức Toàn cẩn thận từng li từng tí thu lại pháp thiếp trên thư án, bước về phía dãy giá sách sau lưng Lý Thế Dân.
Một hàng giá sách bằng gỗ nam sam kê sát vách tường phía bắc, trên giá bày biện chỉnh tề từng cuộn pháp thiếp được bồi biểu tinh xảo, trong đó phần lớn là các tác phẩm thư pháp của Vương Hi Chi mà Lý Thế Dân từ sau năm Vũ Đức thứ chín đã dốc hết tâm lực tìm kiếm khắp thiên hạ. Cho đến nay, ngài đã thu thập được hai trăm chín mươi tờ khải thư và hành thư của Vương Hi Chi, bồi thành bảy mươi cuộn; hai nghìn tờ thảo thư, bồi thành tám mươi cuộn.
Thế nhưng, điều khiến Lý Thế Dân cảm thấy tiếc nuối sâu sắc là, mãi đến tận hôm nay, tác phẩm hành thư tiêu biểu của Vương Hi Chi mà ngài tha thiết muốn có nhất là “Lan Đình Tự” vẫn bặt vô âm tín như trước. Bao năm qua, ngài vẫn luôn bị câu đố mà Lữ Thế Hành để lại năm xưa bủa vây quấy nhiễu, vừa bất lực không phá giải nổi, lại vừa chẳng thể dứt bỏ ra được. Ngay cả vụ thảm án diệt môn tàn khốc năm ấy, về sau cũng hóa thành án treo dang dở, trở thành một nỗi đau thầm kín khó phai mờ suốt bao năm qua của Lý Thế Dân.
“Đại gia, cuộn ‘Thải Cúc Thiếp’ này được chăng?” Triệu Đức Toàn rút một cuộn pháp thiếp trên giá xuống hỏi.
Lý Thế Dân đang định đáp lời, một tiểu hoàng môn đã rảo bước tiến vào trong điện, khom mình tâu: “Khởi bẩm Đại gia, Ngụy Vương điện hạ cầu kiến.”
“Thanh Tước tới ư?” Trên mặt Lý Thế Dân rạng rỡ vẻ mừng vui, “Mau truyền!”
Tiểu hoàng môn dạ một tiếng rồi lui xuống.
“Thanh Tước” là tên mụ của con trai thứ tư của Lý Thế Dân - Ngụy Vương Lý Thái. Khi ấy Lý Thái hai mươi ba tuổi, cùng Thái tử Lý Thừa Càn hai mươi tư tuổi và Tấn Vương Lý Trị mười lăm tuổi là anh em cùng mẹ, đều do Văn Đức Hoàng hậu Trưởng Tôn thị sinh ra; bởi từ nhỏ đã thông minh tuyệt đỉnh, tài hoa cái thế, nên được sủng ái bậc nhất trong các hoàng tử, là người mà Lý Thế Dân yêu quý nhất.
Triệu Đức Toàn thấy hoàng đế hôm nay tâm trạng rất tốt, bèn xán lại gần: “Đại gia, xem ra hôm nay là một ngày đại hỷ rồi!”
“Hỷ từ đâu tới?” Lý Thế Dân nhắm mắt, tay trái chắp sau lưng, tay phải làm tư thế cầm bút, giơ lên giữa không trung dùng ý niệm để viết chữ. Hành động này vừa có thể rèn luyện lực cánh tay và cổ tay, lại vừa tôi luyện sức tập trung, những người giỏi thư pháp đều rất thích làm.
Triệu Đức Toàn cười, biết hoàng đế đang biết rồi còn hỏi: “Nghe đồn trước tác đồ sộ ‘Quát Địa Chí’ của Ngụy Vương điện hạ đã biên soạn hoàn tất, công đức viên mãn rồi, hôm nay ngài ấy nhất định là tới báo hỷ với Đại gia đấy ạ.”
Bởi Lý Thái từ thuở nhỏ đã yêu thích văn học, đa tài đa nghệ, Lý Thế Dân bèn đặc cách cho phép hắn mở Văn học quán trong phủ, tự mình chiêu mộ danh sĩ trong thiên hạ. Từ năm Trinh Quán thứ mười hai, dưới sự phò trợ của một nhóm thạc học hồng nho, Lý Thái bắt đầu rầm rộ biên soạn “Quát Địa Chí”. Bộ sách này là một trước tác địa lý quy mô lớn, phần chính văn gồm năm trăm năm mươi quyển, tự lược năm quyển, ghi chép toàn diện về phân vùng cương vực và thiết lập châu huyện thời Trinh Quán; thu thập rộng rãi kinh truyện địa chí, tìm tòi ghi chép cũ và chuyện xưa, ghi chép tường tận về duyên cách thiết lập các khu hành chính cùng sơn xuyên, vật sản, cổ tích, phong tục, nhân vật, điển cố…, vừa mang tính học thuật sâu sắc, lại vừa đem lại nhiều ích lợi to lớn cho việc quản lý hành chính của triều đình Đại Đường bấy giờ.
Trải qua hơn ba năm, bộ sách cuối cùng đã biên soạn xong vào dịp trước Tết. Kỳ thực, Lý Thế Dân từ mấy ngày trước đã nhận được tin tức, cho nên ngài dĩ nhiên cũng biết, hôm nay Lý Thái nhập cung hẳn là để chính thức dâng sách.
“Đức Toàn, ngươi năm nay bao nhiêu tuổi rồi?” Lý Thế Dân vẫn nhắm nghiền hai mắt, thình lình hỏi.
Triệu Đức Toàn giật mình: “Hồi Đại gia, lão nô năm nay sáu mươi ba tuổi rồi ạ.”
“Ngươi ngày thường dưỡng sinh, đều dùng những loại thuốc bổ gì?”
Triệu Đức Toàn càng thêm mù mờ: “Đại gia, lão nô… lão nô trừ ba bữa cơm mỗi ngày ra, rất hiếm khi tẩm bổ.”
“Ồ?” Lý Thế Dân mở mắt ra nhìn hắn, “Thế thì lạ thật. Đã hiếm khi tẩm bổ, cớ sao ngươi đến ngần này tuổi rồi mà vẫn còn tai thính mắt tinh đến thế?”
Triệu Đức Toàn rốt cuộc cũng nghe ra hàm ý sâu xa trong lời nói, vội vàng quỳ sụp xuống đất: “Đại gia thứ tội! Chuyện của Ngụy Vương điện hạ, lão nô cũng chỉ ngẫu nhiên nghe thấy thôi, tuyệt đối không phải cố ý dò la, kính xin Đại gia minh giám!”
Lý Thế Dân cười nhạt một tiếng: “Hoảng cái gì? Trẫm có mắng ngươi đâu, chẳng qua là khen gân cốt ngươi còn cứng cáp mà thôi, xem dọa ngươi sợ đến thế kia kìa.”
Triệu Đức Toàn dập đầu lia lịa trên mặt đất: “Lão nô nhờ hồng phúc của Đại gia, lại một lòng một dạ hầu hạ Đại gia, cho nên ông trời rủ lòng thương xót, mới để cho bộ xương mục này của lão nô sống thêm mấy năm, nếu có ngày nào Đại gia không cần lão nô nữa, lão nô lập tức đào một cái hố tự chôn sống bản thân luôn!”
Lý Thế Dân cười ha hả: “Được rồi được rồi, đứng dậy đi, chính ngươi vừa bảo hôm nay là ngày đại hỷ, sao cứ toàn nói mấy lời chẳng lành thế?”
* * *
Triệu Đức Toàn bấy giờ mới run rẩy bò dậy, cười xòa nịnh nọt: “Đại gia nói phải, là lão nô đáng vả miệng.”
Lúc này, ngoài điện vang lên giọng nói hào sảng của Ngụy Vương Lý Thái: “Nhi thần khấu kiến Phụ hoàng, cung chúc Phụ hoàng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!”
“Các ngươi lui xuống hết đi, Trẫm muốn nói chuyện với Ngụy Vương, không ai được phép làm phiền.” Lý Thế Dân thu lại nụ cười, nghiêm nghị nói.
“Tuân chỉ.” Triệu Đức Toàn dẫn đám thái giám trong điện khom người lui ra, một giọt mồ hôi lạnh lặng lẽ trượt xuống từ thái dương lão.
Tại nội điện Cam Lộ Điện, bốn cuộn tơ lụa bọc lụa vàng được xếp ngay ngắn trên thư án, Lý Thế Dân tay cầm một cuộn khác, đang ngồi trên sập đọc dở. Ngụy Vương Lý Thái khom người đứng hầu một bên, thủy chung vẫn quan sát sắc mặt của Lý Thế Dân.
“Phụ hoàng, năm cuộn này là tổng tự của 《Quát Địa Chí》, nhi thần muốn để Người xem trước cho vui, phần chính văn năm trăm năm mươi quyển cũng đã đưa vào Bí Các trong cung, nếu Người muốn ngự lãm, có thể sai người truyền tới bất cứ lúc nào.” Lý Thái thấp giọng nói. Hắn dáng người vạm vỡ, khí vũ hiên ngang, đôi mắt to sáng quắc, bất kể vóc dáng hay diện mạo đều cực kỳ giống Lý Thế Dân.
“Ừm, không gấp.” Lý Thế Dân vẫn nhìn vào cuộn tơ lụa, trên mặt dần hiện ra vẻ tán thưởng.
Lý Thái nhận ra điều đó, trong lòng thầm mừng rỡ.
Đối với việc biên soạn 《Quát Địa Chí》, Lý Thế Dân luôn dành sự quan tâm rất lớn. Trong mắt triều đình và dân gian, đây chẳng qua là vì Lý Thế Dân sủng ái Ngụy Vương, muốn thông qua bộ sách này để Lý Thái nâng cao danh tiếng cá nhân và uy tín chính trị mà thôi. Tuy nhiên, ít ai biết rằng, ngoài nguyên nhân bề nổi đó, việc Lý Thế Dân để Lý Thái biên soạn bộ sách này thực chất còn một nguyên nhân bí mật khác, đó là mượn danh nghĩa soạn sách để âm thầm huy động lượng lớn nhân lực vật lực tìm kiếm một người — một người có liên quan mật thiết với 《Lan Đình Tự》, và rất có khả năng biết được tung tích của nó.
Một lát sau, Lý Thế Dân lật xem bốn cuộn còn lại rồi mới đặt xuống, hài lòng nhìn Lý Thái: “Thanh Tước, soạn xong bộ sách này là một việc đại sự có công với triều đình, Trẫm nhất định phải thưởng công cho con.”
Lý Thái đại hỉ, nhưng biểu cảm vẫn cố kiềm chế: “Đa tạ Phụ hoàng tán thưởng! Tuy nhiên, bộ sách này có thể hoàn thành, trên nhờ thiên ân của Phụ hoàng, dưới nhờ các liêu thuộc trợ giúp, nhi thần không dám kể công.”
“Được rồi, cha con ta không cần nói những lời khách sáo đó.” Lý Thế Dân vỗ vỗ lên sập ngự bên cạnh, “Lại đây ngồi đi.”
Lý Thái không còn kìm nén được vẻ vui mừng, khom người vái chào: “Tạ Phụ hoàng ban tọa!”
Có thể ngồi cùng sập với Hoàng đế rõ ràng không phải là ân sủng bình thường. Đừng nói là văn võ bá quan không ai có được đãi ngộ này, ngay cả mười mấy người con trai của Lý Thế Dân cũng chỉ có mình Lý Thái được hưởng vinh dự đó. Mà vào lúc này, “ngồi cùng sập” đối với Lý Thái không chỉ là một vinh dự, mà còn là một ám hiệu, ám chỉ hắn có thể bẩm báo với Lý Thế Dân những chuyện cơ mật hơn.
Về điểm này, cha con họ tự nhiên tâm ý tương thông.
“Phụ hoàng, nhi thần còn một tin mừng muốn tấu.” Lý Thái ngồi sang một bên, hạ thấp giọng nói.
Lý Thế Dân cố ý nhắm mắt lại, dùng tay nhẹ nhàng xoa thái dương: “Nói đi.”
“Nhi thần đã tìm thấy manh mối của Biện Tài.”
Biện Tài mà Lý Thái nhắc đến là một hòa thượng, cũng là đệ tử của hòa thượng Trí Vĩnh — hậu duệ đời thứ bảy của Vương Hi Chi. Theo điều tra ban đầu của Lý Thế Dân, Trí Vĩnh tên thật là Vương Pháp Cực, là hậu duệ của Vương Huy Chi — con trai thứ năm của Vương Hi Chi. Ông kế thừa gia phong, tinh thông thư pháp, vào những năm Tiêu Lương đã xuất gia tại Vân Môn Tự ở huyện Sơn Âm, quận Hội Kê, ngôi chùa này sau đó được Lương Vũ Đế Tiêu Diễn ban tên đổi thành Vĩnh Hân Tự. Theo tình báo đáng tin cậy, chân tích 《Lan Đình Tự》 luôn nằm trong tay Trí Vĩnh. Cuối thời Tùy thiên hạ đại loạn, quần hùng nổi dậy, Tiêu Tiển chiếm cứ Giang Lăng xưng đế, Trí Vĩnh cùng đệ tử Biện Tài đột ngột rời khỏi Vĩnh Hân Tự đến Đại Giác Tự ở Giang Lăng, sau đó trú tích tại đây. Năm Vũ Đức thứ tư, Giang Lăng bị quân Đường đánh hạ, Tiêu Tiển bại trận vong mạng, Trí Vĩnh cùng Biện Tài bèn rời khỏi Đại Giác Tự, không rõ tung tích.
Những tình báo trên có một phần là Lý Thế Dân có được từ đại thần Ngu Thế Nam. Ngu Thế Nam từng là một trong mười tám học sĩ của Tần Vương phủ, là một đại gia thư pháp mà Lý Thế Dân cực kỳ ngưỡng mộ. Lúc trẻ, ông từng theo Trí Vĩnh học thư pháp, đã hơn một lần được tận mắt chiêm ngưỡng chân tích 《Lan Đình Tự》. Sau khi sự kiện Lữ Thế Hành xảy ra vào năm Vũ Đức thứ chín, Lý Thế Dân đã nhiều lần mật triệu Ngu Thế Nam để hỏi về 《Lan Đình Tự》 và chuyện của Trí Vĩnh, nhưng hiểu biết của Ngu Thế Nam có hạn, không thể cung cấp thêm manh mối giá trị nào.
Năm Trinh Quán thứ mười hai, Ngu Thế Nam bệnh mất. Lúc này Lý Thế Dân đã ngầm ý cho Lý Thái bắt đầu biên soạn 《Quát Địa Chí》, và thông qua lượng lớn điều tra bí mật đã biết được rằng, sau khi Trí Vĩnh và Biện Tài rời Giang Lăng vào năm Vũ Đức thứ tư, họ đã trở về quê nhà Việt Châu, ẩn cư tại núi Lan Chử. Ngọn núi Lan Chử này chính là nơi Vương Hi Chi cùng hàng chục bằng hữu tụ hội vào năm Vĩnh Hòa thứ chín. Vào tết Thượng Tỵ mồng ba tháng ba năm đó, bọn người Vương Hi Chi đã bên dòng suối Lan Đình trong núi này khúc thủy lưu thương, uống rượu ngâm thơ, Vương Hi Chi càng thêm phấn chấn, trong lúc say sưa đã cầm bút viết nên kiệt tác thiên cổ 《Lan Đình Tự》, được hậu thế ca tụng là “Thiên hạ đệ nhất hành thư”.
Theo điều tra tiếp theo của Lý Thái, vào năm Vũ Đức thứ chín, tức là không lâu sau khi Lý Thế Dân đăng cơ, Trí Vĩnh đã qua đời vào một đêm nọ mà không có điềm báo trước, hưởng thọ một trăm hai mươi tuổi. Sau khi Trí Vĩnh viên tịch, đệ tử Biện Tài vốn luôn theo hầu hạ ông cũng biến mất theo, từ đó không còn dấu vết.
Lý Thế Dân và Lý Thái dựa vào đó phán đoán rằng, Biện Tài rất có thể đã mang theo chân tích 《Lan Đình Tự》 bỏ trốn nơi khác, hơn nữa cực kỳ có khả năng đã để tóc hoàn tục, thay tên đổi họ, từ đó ẩn mình giữa biển người mênh mông. Trong mắt Lý Thế Dân, lý do duy nhất khiến Biện Tài cố ý che giấu hành tung chỉ có thể là — 《Lan Đình Tự》 đang ẩn chứa một bí mật trọng đại nào đó! Phán đoán này hoàn toàn trùng khớp với phán đoán mà Lý Thế Dân rút ra từ sự kiện Lữ Thế Hành, vì vậy Lý Thế Dân luôn tin tưởng không chút nghi ngờ.
Tất nhiên, Lý Thế Dân không chia sẻ điểm này với Lý Thái. Ông để Lý Thái biên soạn 《Quát Địa Chí》, bí mật tìm kiếm Biện Tài, chỉ lấy lý do là vì quá yêu thích thư pháp của Vương Hi Chi, hy vọng thông qua Biện Tài tìm thấy danh thiếp thiên cổ 《Lan Đình Tự》 mà thôi.
Lúc này, khi Lý Thế Dân nghe Lý Thái nói đã tra ra manh mối của Biện Tài, trong lòng bỗng chốc vô cùng kích động. Dù sao mười mấy năm qua, đây là khoảnh khắc gần với chân tướng của 《Lan Đình Tự》 nhất, chỉ cần tìm thấy Biện Tài, không khó để từ hắn tra ra mọi bí mật.
Tuy nhiên, với tư cách là một vị hùng chủ một đời, định lực của Lý Thế Dân vẫn phát huy tác dụng vào lúc này. Ông vẫn nhắm mắt, ngón tay nhẹ nhàng xoa thái dương, động tác không nhanh không chậm, hồi lâu mới hỏi: “Đã tra được manh mối gì rồi?”
“Bẩm Phụ hoàng,” Lý Thái quan sát sắc mặt Lý Thế Dân, “Nhi thần đã khoanh vùng được mười bảy đối tượng khả nghi trong các huyện thuộc quyền quản lý của ba vùng U Châu, Dương Châu, Lạc Châu. Dựa trên phân tích tổng hợp từ các nguồn tin báo, có thể khẳng định Biện Tài nhất định nằm trong số mười bảy người này!”
“Mười bảy người?” Lý Thế Dân “ừm” một tiếng, “Cũng không tệ, so với việc giăng lưới khắp trời, mò kim đáy bể thì tốt hơn nhiều.”
“Vâng thưa Phụ hoàng, nhi thần dự định phái ra một nhóm nhân thủ tinh nhuệ nhất để tiến hành điều tra bí mật các đối tượng hiềm nghi này, tin rằng sẽ sớm có kết quả.”
“Ừm, con định phái những ai đi?”
Lý Thái muốn nói lại thôi.
Đến lúc này Lý Thế Dân mới mở mắt: “Sao không nói gì nữa?”
Lý Thái ngập ngừng: “Phụ hoàng, để nhanh chóng tra ra Biện Tài, nhi thần... có một thỉnh cầu quá đáng.”
“Nói.”
“Nhi thần hy vọng Người có thể hạ chỉ, điều động... người của Huyền Giáp Vệ.”
Lý Thế Dân hơi khựng lại, trầm ngâm suy nghĩ.
Huyền Giáp Vệ là một lực lượng đặc biệt, trực tiếp nghe lệnh của Lý Thế Dân, quân số chỉ hơn hai nghìn người nhưng đều là tinh nhuệ trong số tinh nhuệ. Lực lượng này được diễn biến từ đội thiết kỵ dũng mãnh nhất dưới trướng Lý Thế Dân năm xưa là “Huyền Giáp Quân”, trong đó một phần nhỏ là tướng hiệu của Huyền Giáp Quân cũ, phần lớn là những tài năng trẻ tuổi được tuyển chọn khắt khe trong những năm gần đây.
Trong tiến trình lập quốc của đại triều Đường, Huyền Giáp Quân từng theo Lý Thế Dân quét sạch quần hùng, thống nhất hải nội, lập nên chiến công hiển hách. Huyền Giáp Quân thuộc loại trọng kỵ binh, do đích thân Lý Thế Dân tuyển chọn và thành lập từ quân Đường khắp bốn phương, chủ yếu đảm nhận trọng trách xung phong hãm trận trong các trận dã chiến. Cả người và ngựa đều mặc giáp sắt đen, nên có tên là Huyền Giáp. Đội quân này chia làm hai bộ Tả, Hữu, do các kiêu tướng Tần Thúc Bảo, Trình Tri Tiết, Uất Trì Kính Đức, Địch Trưởng Tôn thống lĩnh. Mỗi khi có chiến dịch lớn, Lý Thế Dân tất sẽ đích thân mặc huyền giáp ra trận, lấy Huyền Giáp Quân làm tiền phong, không gì không phá được, đánh đâu thắng đó, khiến kẻ thù nghe danh đã mất mật. Năm Vũ Đức thứ ba, Lý Thế Dân bao vây Lạc Dương, từng dẫn một nghìn tinh nhuệ Huyền Giáp đánh tan Vương Thế Sung, chém và bắt sống hơn sáu nghìn người; tiếp đó trong trận Hổ Lao Quan nổi tiếng, với ba nghìn năm trăm kỵ binh Huyền Giáp, ông đã đại phá hơn mười vạn quân chủ lực của Đậu Kiến Đức, bắt sống Đậu Kiến Đức, một gậy định giang sơn.
Sau khi Lý Thế Dân đăng cơ, ông đã cải biên vương bài Huyền Giáp Quân năm xưa, phần lớn giao cho Lý Tĩnh thống lĩnh, đóng vai trò then chốt trong cuộc chiến đánh bại Đột Quyết. Sau đó, lấy phần tinh nhuệ còn lại làm nòng cốt, do Lý Thế Tích đảm nhiệm Đại tướng quân, thành lập nên Huyền Giáp Vệ. Khác với sự oai hùng lẫm liệt trên sa trường của Huyền Giáp Quân, Huyền Giáp Vệ kín tiếng và đầy bí ẩn. Đôi khi họ đảm nhận trọng trách cấm vệ khi Hoàng đế xuất tuần, nhưng nhiệm vụ chính là thực thi các mật lệnh trực tiếp từ Hoàng đế, như giám sát, điều tra, truy bắt, thẩm vấn các cao quan trọng thần có vấn đề, tương tự như Cẩm Y Vệ của các đời sau. Tại Đại Đường bấy giờ, văn võ đầy triều cùng Đô đốc, Thứ sử các đạo, hễ nghe đến ba chữ “Huyền Giáp Vệ” là không ai không biến sắc, run rẩy sợ hãi.
Huyền Giáp Vệ kế thừa biên chế của Huyền Giáp Quân, lấy Đại tướng quân làm thống lĩnh, dưới quyền là hai bộ Tả, Hữu do Tả, Hữu Tướng quân phân chia thống lĩnh, mỗi bộ lãnh một nghìn không trăm tám mươi người; mỗi Tướng quân dưới quyền có hai Trung lang tướng, mỗi người lãnh năm trăm bốn mươi người; mỗi Trung lang tướng dưới quyền có hai Lang tướng, mỗi người lãnh hai trăm bảy mươi người; mỗi Lang tướng dưới quyền có ba Lữ soái, mỗi người lãnh chín mươi người; mỗi Lữ soái dưới quyền có ba Đội chính, mỗi người lãnh ba mươi người. Vì là lực lượng cận vệ trực thuộc Hoàng đế, nên tuy Huyền Giáp Vệ không đông quân số nhưng phẩm cấp rất cao: Đại tướng quân hàm Chính tam phẩm, Tả, Hữu Tướng quân hàm Tòng tam phẩm, Trung lang tướng hàm Chính tứ phẩm hạ, Lang tướng hàm Chính ngũ phẩm thượng, Lữ soái hàm Tòng lục phẩm thượng, Đội chính hàm Chính thất phẩm thượng.
Do thân phận đặc thù và chức trách trọng đại, trang bị của Huyền Giáp Vệ cũng đặc biệt tinh lương. Toàn thể quan binh đều mặc Huyền Vũ giáp, lưng đeo Long Thủ đao, chiến mã đều là ngựa Yên Kỳ đen tuyền. Huyền Vũ giáp là một loại đa trọng giáp trụ được chế tạo bằng công nghệ độc đáo, kết hợp giữa giáp sắt và giáp da, vừa có vẻ hoa lệ của Minh Quang khải, sự kiên cố của Tỏa Tử giáp lại vừa có sự nhẹ tiện của giáp da. Do vật liệu đa dạng, quy trình phức tạp nên giá thành rất đắt đỏ. Kiểu dáng của Long Thủ đao bắt nguồn từ Hoàn Thủ đao thời Hán, thân hẹp, lưỡi dài, sống thẳng, và trên nền tảng kỹ nghệ đúc “Bách luyện cương” thời Hán, họ còn áp dụng thêm kỹ thuật “Bao cương” khiến độ cứng lớn hơn, độ dẻo dai mạnh hơn. Phần vòng tròn dẹt ở chuôi đao cũng được lược bỏ, thay thế bằng hình đầu rồng uy mãnh tinh xảo, nên được đặt tên là “Long Thủ”, chi phí chế tác tổng thể vô cùng cao. Ngựa Yên Kỳ đến từ Tây Vực, tốc độ chạy nhanh, chịu tải lớn, nổi tiếng với khả năng đi đường trường, lại có thể bơi lội dưới nước, nên có mỹ danh là “Hải mã long câu”.
* * *
Bởi Huyền Vũ giáp toàn thân đen kịt, chuôi và vỏ đao Long Thủ cũng màu đen, ngựa Yên Kỳ lại đều chọn sắc đen tuyền, nên mỗi khi Huyền Giáp Vệ xuất hiện là có một luồng khí lạnh lẽo túc sát ập đến bức người, đặc biệt là khi tập thể xuất động, càng có một loại khí thế áp đảo như mây đen cuộn tới, đè nén thành quách sắp sụp đổ.
Một đội quân đặc biệt như vậy thường không dễ dàng điều động, cho nên khi Lý Thái vừa đưa ra yêu cầu này, Lý Thế Dân thực sự có chút bất ngờ, nhất thời trầm ngâm không nói.
Lý Thái quan sát sắc mặt Lý Thế Dân, có chút hoảng hốt, vội nói: “Phụ hoàng, việc này là nhi thần cân nhắc thiếu chu toàn, Huyền Giáp Vệ thực không nên khinh suất điều động…”
Lý Thế Dân bỗng giơ tay ngăn hắn lại: “Không, thép tốt phải dùng vào lưỡi đao, Trẫm chuẩn!”
Lý Thái mừng rỡ quá đỗi: “Phụ hoàng thánh minh!”
Lạc Châu, huyện Y Khuyết.
Trên các phố chợ trong huyện thành, xe ngựa tấp nập, người đi như mắc cửi, hai bên đường hàng quán san sát, một khung cảnh phồn hoa náo nhiệt.
Sở Ly Tang từ sáng sớm đã trèo tường sau nhà ra ngoài, giấu cha mẹ lén lút lẻn ra phố chợ.
Hôm nay là ngày mười chín tháng Hai, ngày khánh đản của Quan Thế Âm Bồ Tát, Bồ Đề Tự ở phía nam thành có hội chùa thường niên, ăn uống vui chơi không thiếu thứ gì. Sở Ly Tang từ sau Tết Nguyên tiêu rằm tháng Giêng đã mong mỏi ngày này đến, cứ bám lấy mẫu thân đòi đi cùng, nhưng mẫu thân luôn bảo phận nữ nhi không nên đến chỗ đông người lộ mặt, nhất quyết không đồng ý. Vì thực sự không lay chuyển được mẫu thân, lòng dạ ngứa ngáy khó nhịn, Sở Ly Tang dứt khoát thay một bộ đồ nam nhân, trời vừa hửng sáng đã trèo tường sau nhà ra ngoài.
Sở Ly Tang lúc này đầu đội mũ sa phốc đầu màu xanh đen, mình mặc bào sam cổ tròn màu xanh nhạt, thắt lưng buộc một dải đai da bạch ngọc, chân xỏ đôi ủng lục hợp bằng da đen, anh tư sảng khoái, phong thái hào hoa, hệt như một thanh niên sĩ tử vừa bước ra từ huyện học.
Vừa nãy khi Sở Ly Tang thay bộ đồ này, nhìn thấy “nam tử” trong gương đồng, nàng thực sự giật mình, suýt chút nữa không nhận ra chính mình. Nha hoàn Lục Tụ giúp nàng sửa soạn ở bên cạnh cũng nhìn đến ngẩn ngơ, trưng ra vẻ mặt si mê nói: “Mẹ ơi, vị tuấn tú lang quân này từ đâu tới vậy!”
Sở Ly Tang đắc ý tột cùng, giả giọng trầm nói: “Vị nương tử này hỏi như vậy, là có ý gì?”
Lục Tụ liếc mắt đưa tình với nàng: “Lang quân thật là rõ rồi còn hỏi! Ý của nô gia là muốn hỏi lang quân đã thành thân chưa!”
“Đã thành thân thì sao, mà chưa thành thân thì thế nào?” Sở Ly Tang chắp tay sau lưng, học theo phong thái thường thấy của nam nhân.
“Đã thành thân thì thôi. Nếu chưa thành thân, vậy…” Lục Tụ phối hợp rất tốt, làm ra vẻ thẹn thùng.
“Vậy cái gì?” Sở Ly Tang tiến sát lại gần.
Lục Tụ lấy tay áo che mặt, nghiêng người đi: “Vậy… chàng đã chưa cưới, thiếp cũng chưa gả, sao không… sao không…”
“Sao không cái gì?” Sở Ly Tang vén tay áo nàng lên, vẻ mặt đầy cợt nhả.
Lục Tụ nhìn bộ dạng háo sắc của nàng, cuối cùng nhịn không được, phì cười thành tiếng. Sở Ly Tang cố nhịn một lát, cuối cùng cũng không nhịn được mà cười gập cả người. Hai người nô đùa một trận, mãi đến khi tiền viện truyền đến tiếng nói của mẫu thân Sở Anh Nương mới vội vàng bịt miệng lại.
Lúc Sở Ly Tang leo lên đầu tường sau viện, nàng nói với Lục Tụ đang đứng bên dưới: “Nhớ kỹ đấy, nếu nương ta có hỏi, cứ bảo là tối qua ta làm nữ công đến muộn, canh ba mới nằm xuống, giờ vẫn chưa dậy đâu.”
“Mau đi đi, còn không đi, nô tỳ cũng muốn trèo tường theo tiểu thư mất!” Lục Tụ chu môi nói.
Sở Ly Tang nháy mắt với nàng: “Lục Tụ ngoan, lần sau nhất định sẽ đưa em đi.” Nói xong liền xoay người, nhanh nhẹn nhảy xuống khỏi đầu tường.
Lục Tụ nhìn đầu tường trống không, vẻ mặt đầy thẫn thờ.
Hội chùa tổ chức trên quảng trường trước Bồ Đề Tự, tuy trời còn sớm nhưng nơi đây đã huyên náo, biển người đông đúc.
Sở Ly Tang mua một túi đậu tằm chiên ở sạp đồ ăn vỉa hè, vừa dạo chơi trong đám đông chen chúc, vừa nhai đậu kêu rôm rốp, còn nhổ vỏ đậu ra thật xa. Nàng thích cảm giác không gò bó, tự do tự tại này, đáng tiếc lại mang thân nữ nhi, từ nhỏ đến lớn đều bị cha mẹ dạy dỗ phải ôn nhu hiền thục, nói năng đi đứng đều phải hợp lễ nghi, còn suốt ngày bị nhốt trong nhà, chân không bước qua cửa lớn, thỉnh thoảng gặp người cũng phải cúi mày rũ mắt, cười không hở răng.
Dựa vào cái gì chứ?!
Sở Ly Tang rất không phục. Cứ nói việc ăn vặt trên phố này đi, dựa vào cái gì nam nhân có thể, còn nữ nhân thì không? Cho nên lúc này, cầm túi đậu tằm nghênh ngang đi giữa chốn đông người, còn cố ý nhổ vỏ đậu ra thật xa, Sở Ly Tang cảm thấy đặc biệt sảng khoái, trong lòng thậm chí còn có một loại khoái cảm nổi loạn.
Hội chùa tràn ngập các loại biểu diễn mới lạ thú vị, có đi dây, đấu vật, leo thang đao, phun lửa, múa rắn, đá gà, xiếc khỉ, ca múa, kể chuyện, v.v., đám đông đứng xem ai nấy đều rướn cổ nhón chân, thỉnh thoảng lại rộ lên những tràng vỗ tay khen ngợi. Sở Ly Tang ghé chỗ này một chút, ngó chỗ kia một tẹo, cuối cùng bị một sạp diễn kịch bóng thu hút.
Vở kịch diễn câu chuyện về một thư sinh gặp nạn và một nữ tử si tình, Sở Ly Tang hồi nhỏ từng theo mẫu thân xem vài lần, chỉ thấy những hình nhân bằng da xanh xanh đỏ đỏ kia hay hay, chứ hoàn toàn không xem hiểu. Không ngờ hôm nay dừng chân lại, vừa nghe vài câu kịch văn, nàng đã không tự chủ được mà nhập tâm vào vở diễn.
Nữ tử và thư sinh trải qua bao gian khổ, cuối cùng cũng đến được với nhau. Dưới ánh trăng bên hoa, hai người thổ lộ tâm tình, chỉ nghe nữ tử dùng giọng hát tha thiết, sầu muộn hát rằng: “Sơn vô lăng, giang thủy vi kiệt, đông lôi chấn chấn, hạ vũ tuyết, thiên địa hợp, nãi cảm dữ quân tuyệt!”
Trong khoảnh khắc, trái tim Sở Ly Tang bỗng nhiên bị đánh trúng.
Hán Việt: Sơn vô lăng, Giang thủy vi kiệt, Đông lôi chấn chấn, Hạ vũ tuyết, Thiên địa hợp, Nãi cảm dữ quân tuyệt!
Dịch thơ: Núi không đỉnh, Sông cạn dòng, Đông sấm vang rền, Hè tuyết rơi, Trời đất hợp nhất, Mới dám dứt tình cùng chàng!
Rốt cuộc là loại tình cảm khắc cốt ghi tâm đến nhường nào mới khiến một nữ tử thốt ra lời thề tình yêu làm lay động lòng người đến thế! Và phải là một nam tử như thế nào mới xứng đáng với tấm chân tình cảm động đất trời này?
Trong lúc đang thả hồn theo những suy nghĩ miên man, lòng dạ bồi hồi, bỗng cảm thấy vạt áo bào bị kéo mấy cái, Sở Ly Tang cúi đầu nhìn, thấy một tiểu khất cái đầu bù tóc rối đang tròn mắt nhìn nàng, tay giơ cao một chiếc bát vỡ. Hắn ngồi trên một tấm ván trượt có bánh xe gỗ, đôi chân dường như bị tàn tật. Sở Ly Tang nảy lòng thương hại, vừa định đưa tay vào ngực lấy tiền, bỗng nhớ tới lời mẫu thân từng nói, gần đây có không ít kẻ ăn mày giả bệnh giả què để lừa tiền người khác, tuyệt đối đừng tin mà mắc mưu, liền rụt tay lại, nhìn tiểu khất cái nói: “Này, ngươi suốt ngày ở đây giả què lừa tiền, không sợ bị người ta vạch trần sao?”
Tiểu khất cái ngẩn ra: “Ngươi… ngươi nói bậy, ta giả què hồi nào?”
“Đừng có cứng miệng nữa.” Sở Ly Tang cười nói, “Cẩn thận có ngày bị người ta vạch trần, đánh ngươi thành què thật, lúc đó thì lợi bất cập hại đấy.”
Tiểu khất cái biết không lừa được nàng, liền lườm nàng một cái thật sắc, thấp giọng nguyền rủa: “Đồ keo kiệt, giữ tiền đó mà mua quan tài đi!”
Sở Ly Tang vừa nghe đã nổi giận: “Hừ, cái tên ăn mày thối tha này, sao vừa mở miệng đã chửi người vậy hả?”
Tiểu khất cái vẫn lẩm bẩm chửi rủa trong miệng, hai tay chống xuống đất, đẩy ván trượt muốn chạy. Sở Ly Tang bước nhanh tới, túm lấy cổ áo sau của hắn. Tiểu khất cái liều mạng vùng vẫy, la hét om sòm, khiến đám đông xung quanh đồng loạt ngoảnh lại nhìn.
“Dừng tay!” Phía sau truyền đến giọng nói trầm ấm của một nam tử.
Sở Ly Tang đột nhiên quay đầu lại, nhìn thấy một nam tử trẻ tuổi đang đứng trước mặt, uy nghiêm nhìn nàng.
Mẹ ơi, thật là một lang quân tuấn tú!
Tim Sở Ly Tang bỗng đập thình thịch. Nam tử này ngoài hai mươi tuổi, mặc một bộ bào sam trắng nho nhã sạch sẽ, mày kiếm mắt sáng, sống mũi thẳng tắp, đường nét môi và cằm cương nghị mạnh mẽ, khí chất toàn thân tuấn dật thoát tục, chỉ là thần sắc không được thân thiện cho lắm.
“Vị huynh đài này, xem ngươi cũng là người đọc sách, cớ sao lại ức hiếp kẻ yếu giữa đường thế này?” Nam tử áo trắng nhìn chằm chằm nàng, giọng điệu lạnh lùng.
Sở Ly Tang vội vàng trấn tĩnh con tim đang xao động, bĩu môi: “Tên ăn mày thối tha này là kẻ lừa đảo, lừa người không thành liền buông lời nhục mạ, tại sao ta không thể dạy dỗ hắn một chút?”
“Ngươi nói dối!” Tiểu khất cái thấy có người giúp lời, lập tức có thêm tự tin, hét lớn: “Rõ ràng là ngươi keo kiệt không chịu bố thí, còn đuổi theo đánh chửi ta, ta chọc không nổi chẳng lẽ còn không trốn nổi sao?”
Thấy thằng nhóc này nói năng hùng hồn, Sở Ly Tang càng thêm bực tức, giơ tay phải lên định đánh, nam tử áo trắng nhanh như chớp nắm lấy cổ tay nàng. Sở Ly Tang chỉ cảm thấy từ cổ tay truyền đến hơi ấm từ lòng bàn tay của nam tử, con tim lại một phen xao động, không kìm được mà đỏ mặt: “Ngươi… ngươi buông tay ra.”
“Ngươi buông trước đã.” Nam tử trầm giọng nói.
Sở Ly Tang lúc này mới nhận ra tay trái mình vẫn đang túm cổ áo tiểu khất cái, vốn định buông ra, nhưng lại nghĩ mình rõ ràng là người có lý, giờ ngược lại biến thành kẻ ác, trong lòng bất bình, nói với nam tử áo trắng: “Chuyện vừa xảy ra ngươi không hề nhìn thấy, dựa vào cái gì mà giúp hắn nói chuyện?”
“Chuyện vừa xảy ra, tại hạ đúng là không nhìn thấy, có điều, ngươi luôn mồm mắng hắn là đồ ăn mày thối tha, còn đuổi đánh người ta, chuyện đó ta đã tận tai nghe tận mắt thấy.” Nam tử thong thả nói, “Hơn nữa, hắn chỉ là một đứa trẻ tàn tật, đáng thương đáng tội, còn huynh đài đây y phục chỉnh tề, đạo mạo nghiêm trang, dẫu không nói ngươi cậy thế hiếp người, thì ít nhất tại hạ cũng phải giúp hắn nói một câu công bằng chứ? Chẳng lẽ lại hùa theo ngươi để đánh hắn sao?”
Người này nói năng ôn văn nhã nhặn, có lý có cứ, khiến đám đông đứng xem không ngừng gật đầu tán đồng. Sở Ly Tang càng lúc càng có vẻ đuối lý, đành hậm hực buông tiểu khất cái ra. Nam tử thấy vậy cũng buông cổ tay nàng ra. Tiểu khất cái đắc ý cười một tiếng, xoay người định đi. “Tiểu huynh đệ, chờ đã.” Nam tử lấy từ trong ngực ra một túi tiền, đổ ra mười mấy văn tiền đồng, suy nghĩ một chút, lại đổ thêm vài văn, nhẹ nhàng đặt vào bát của tiểu khất cái, ôn tồn nói: “Đi mua chút gì ăn đi. Sau này hành khất cũng phải biết nhìn người, hiểu chưa?”
Sở Ly Tang nghe vậy, tức đến mức trợn trắng mắt, nhưng lại không thể phát tác.
Tiểu khất cái lăn lộn trên phố suốt ngày, tự nhiên là cực kỳ biết “nhìn người”, chỉ liếc mắt một cái qua túi tiền của nam tử liền biết vẫn còn có thể vét thêm, bèn đỏ hoe mắt, nghẹn ngào nói: “Đại ca này không biết đó thôi, tiểu đệ hành khất ở đây không phải để mua đồ ăn cho mình, mà là để cho người mẹ già đang lâm bệnh ở nhà.”
Nam tử nghe xong, lập tức cũng đỏ hoe vành mắt, liền đổ hết số tiền đồng trong túi vào bát của tiểu khất cái, có đến hơn ba mươi văn. “Xin lỗi tiểu huynh đệ, ta lúc này cũng không dư dả gì, chỉ có thể giúp đệ bấy nhiêu thôi.”
“Đa tạ đại ca, đa tạ đại ca!” Tiểu khất cái liên tục gật đầu, vơ lấy tiền đồng nhét vào ngực, đồng thời cũng không quên liếc xéo Sở Ly Tang một cái đầy khiêu khích.
* * *
Sở Ly Tang trừng mắt nhìn. Tiểu khất cái lại chẳng chút sợ hãi, thậm chí còn nhe răng cười với nàng. Sở Ly Tang càng thêm giận dữ, đang định phát tác thì trong đám đông bỗng nhiên xông ra mấy tên lưu manh, chỉ tay vào tiểu khất cái mắng xối xả: “Nhị Lại Tử, hôm đó thua bạc liền bỏ chạy, để xem hôm nay lão tử dạy dỗ ngươi thế nào!”
Nhị Lại Tử giật nảy mình, lập tức nhảy dựng lên khỏi tấm ván trượt, đôi chân khẳng khiu như que củi vậy mà chạy nhanh như bay, vèo một cái đã lủi vào đám đông, trong nháy mắt mất dạng. Mấy tên lưu manh vừa chửi bới vừa đuổi theo. Nam tử áo trắng ngẩn người trước cảnh tượng đột ngột này, tay cầm túi tiền rỗng tuếch, nhìn nhìn tấm ván trượt dưới đất, lại nhìn về phía Nhị Lại Tử vừa biến mất, mặt đầy vẻ ngỡ ngàng.
Sở Ly Tang nhìn hắn, vô cùng khoái chí cười ha hả mấy tiếng.
“Vị huynh đài này, ngươi thật là tinh tường nhìn người, tại hạ vô cùng bội phục!” Sở Ly Tang đắc ý rảo bước đến bên cạnh hắn, chẳng hề che giấu biểu cảm hả hê trước tai họa của người khác.
Nam tử áo trắng bật cười tự giễu, chắp tay với nàng: “Là tại hạ nhìn lầm người, trách lầm huynh đài, xin hãy lượng thứ!”
“Nhìn ngươi y quan chỉnh tề, đạo mạo lẫm liệt, ta còn tưởng ngươi ra tay hào phóng thế nào, sao chỉ cho Nhị Lại Tử có bấy nhiêu tiền?” Sở Ly Tang đầy vẻ khoái ý trả đũa, “Chẳng lẽ lòng đại thiện của huynh đài chỉ đáng giá ba mươi mấy văn sao?”
“Huynh đài quá lời rồi.” Nam tử bối rối, “Tại hạ gần đây gặp chút khó khăn, trong tay đúng là không được dư dả.”
“Ồ? Nói vậy là nếu trong tay dư dả, ngươi sẽ cho hắn nhiều hơn sao?”
“Đó là lẽ đương nhiên. Nếu tại hạ thật sự có dư, tự nhiên sẽ không keo kiệt.”
“Việc này dễ thôi!” Sở Ly Tang nhướng mày, “Vùng này không thiếu những kẻ giả bệnh giả què như Đại Lại Tử, Nhị Lại Tử đâu, hôm nào ngươi có tiền rồi lại đến làm đại thiện nhân một lần nữa, ta bảo đảm sẽ có rất nhiều người ủng hộ ngươi.”
Nam tử nghe nàng châm chọc mỉa mai nhưng không hề giận dữ, nhàn nhạt cười nói: “Không giấu gì huynh đài, cho dù tại hạ biết sớm Nhị Lại Tử giả què thì vẫn sẽ bố thí cho hắn.”
Sở Ly Tang cười ha hả, hoàn toàn không cho là đúng: “Được rồi được rồi, vị nhân huynh này, ngươi cũng đừng có cứng miệng nữa, thỉnh thoảng bị lừa gạt cũng chẳng có gì sai, cứ cố tìm lý lẽ cho mình mới là không đúng.”
Nam tử lắc đầu: “Huynh đài có lẽ không tin, nhưng lời tại hạ nói không phải là lời lẽ hoa mỹ che đậy lỗi lầm, mà là xuất phát từ bản tâm.”
Sở Ly Tang nghe vậy, không nhịn được mà nhìn hắn, chỉ thấy ánh mắt nam tử chân thành, quả thực không giống đang ngụy biện, bèn hậm hực hỏi: “Tại sao lại thế?”
“Một đứa trẻ mười mấy tuổi đầu mà phải lưu lạc đến mức giả què đi lừa gạt, tưởng chừng gia cảnh nhất định khốn đốn, thậm chí có nhà hay không còn khó nói.” Giọng nam tử thản nhiên, nhưng trong thanh âm lại có một thứ gì đó khiến người ta cảm thấy ấm áp, “Cho nên dù biết nó là kẻ lừa đảo, ta cũng không trách nó, càng không cảm thấy hối hận. Điều tại hạ hận là bản thân không đủ năng lực để giúp đỡ thêm nhiều người nghèo khổ hơn nữa...”
Sở Ly Tang nghe lời ấy, bất giác trong lòng thấy ấm áp. Nàng tự nhủ bình thường mình cũng là người có lòng thiện, nhưng dường như đến tận hôm nay mới biết thế nào là lương thiện thực sự. Thế nhưng nàng chuyển niệm nghĩ lại, lời của nam tử dường như cũng không hoàn toàn đúng, bởi lẽ nếu người đời đều thuần hậu lương thiện như hắn, kẻ lừa đảo chẳng phải sẽ càng ngang ngược hơn, người tốt chẳng phải đều biến thành kẻ ngốc sao?
“Ta nói này nhân huynh, ngươi không phải đọc sách thánh hiền đến mụ mị rồi chứ? Lòng thiện là tốt, nhưng cũng phải có nguyên tắc chứ?” Trong lòng Sở Ly Tang tuy đã nảy sinh chút hảo cảm với nam tử này, nhưng miệng vẫn không chịu đồng tình, “Nói câu không phải phép, nếu người đời đều lương thiện như ngươi, e rằng kẻ ngốc nhiều lên, kẻ lừa đảo lại không đủ dùng mất.”
“Huynh đài nói sai rồi!” Nam tử bỗng chính sắc nói, “Lão ngô lão dĩ cập nhân chi lão, ấu ngô ấu dĩ cập nhân chi ấu. Đây là tấm lòng nhân dân ái vật của bậc thánh hiền, kẻ sĩ nên lấy đó để tự khuyên răn, tự gắng gỏi, sao có thể coi là ngốc? Huynh đài chế giễu ta thì không sao, nhưng xin đừng khinh nhờn thánh hiền!”
Sở Ly Tang vốn dĩ muốn nói đùa một câu để làm dịu bầu không khí, không ngờ cái tên mọt sách này lại không hiểu lời nói đùa, chỉ biết mang lời cổ nhân ra nói, thật đúng là vô vị hết sức! Sở Ly Tang bực mình nói: “Biết rõ là kẻ lừa đảo mà còn đưa tiền cho hắn, đây không phải là kẻ ngốc thì là gì?”
Sắc mặt nam tử hơi giận, chắp tay một cái: “Đạo bất đồng bất tương vi mưu, đã là lời không hợp ý thì nói nhiều cũng vô ích. Huynh đài cứ tự nhiên, tại hạ cáo từ!” Nói xong liền phất tay áo bỏ đi, không thèm quay đầu lại.
Sở Ly Tang nhìn bóng lưng hắn vội vàng rời đi, vừa bực mình vừa buồn cười.
Vô duyên vô cớ cãi nhau một trận, vở kịch bóng cũng đã đến hồi kết, chàng thư sinh gặp nạn không rõ vì cớ gì mà chết, cô gái si tình khóc đến đứt ruột đứt gan. Sở Ly Tang xem mà thấy nghẹn lòng, dứt khoát gạt đám đông ra, muốn đi nơi khác dạo chơi.
Vừa chen ra khỏi đám đông, gần đó đã xảy ra một vụ náo loạn, một lão trượng dáng vẻ thương nhân ngồi bệt xuống đất, miệng gào lớn: “Bắt trộm! Tên ác tặc kia cướp bọc vàng của ta rồi——” Sở Ly Tang kiễng chân nhìn qua, chỉ thấy cách đó không xa có một đại hán râu quai nón tay cầm một bọc vải xanh, đang dùng sức húc mở đám đông xung quanh, chạy trốn thục mạng. Ngay sau đó, có người đỡ lão trượng dậy, vội vàng hỏi gì đó rồi lập tức đuổi theo tên đại hán kia.
Sở Ly Tang nhìn kỹ lại, người đuổi theo tên trộm chính là nam tử áo trắng lúc nãy.
Nàng không khỏi cười khổ. Tên mọt sách này tuy vóc dáng không nhỏ, nhưng nhìn lực đạo lúc hắn nắm cổ tay nàng khi nãy thì biết chẳng qua chỉ là một thư sinh yếu ớt, mà tên đại hán râu quai nón kia dám cướp giật tài vật giữa thanh thiên bạch nhật, sau lưng tuyệt đối có đồng bọn. Cái tên mọt sách không biết lượng sức mình này cho dù có đuổi kịp thì chắc chắn cũng sẽ chịu thiệt, không khéo còn bị đám ác tặc kia đánh chết.
Lộ kiến bất bình bạt đao tương trợ vốn là tín điều bấy lâu nay của Sở Ly Tang, thế nên tâm niệm nàng vừa chuyển, chân đã đuổi theo hướng của bọn họ.
Mẹ của Sở Ly Tang là Sở Anh Nương vốn xuất thân từ võ học thế gia, công phu rất liễu đắc, tuy bình thường thâm tàng bất lộ, cực ít khi phô diễn trước mặt người khác, nhưng riêng tư vẫn luôn chăm chỉ luyện tập không ngừng. Sở Ly Tang từ nhỏ đã hoạt bát hiếu động, vì thế cứ bám lấy mẹ đòi dạy võ. Mẹ nàng không lay chuyển được, bèn dạy cho nàng một ít công phu nhập môn để phòng thân kiện thể, sau đó nói gì cũng không dạy thêm nữa. Sở Ly Tang bất lực, bèn âm thầm học lén, lại đem bí tịch võ học mẹ cất giữ trộm ra chép lại một bản, nhiều năm nay vẫn giấu mẹ mà tự mình khổ luyện, không ngờ lại dựa vào thiên tư thông tuệ và sự kiên trì mà thành tài, công lực hiện giờ ít nhất cũng bằng sáu bảy phần của mẹ, nam tử bình thường mười người tám kẻ không thể đến gần nàng.
Sở Ly Tang vừa đuổi ra khỏi quảng trường hội chùa liền không thấy bóng dáng nam tử áo trắng và tên râu quai nón đâu nữa, sau đó dựa vào trực giác đi quanh Bồ Đề Tự nửa ngày, mới phát hiện ra bọn họ tại một sân viện hẻo lánh.
Quả nhiên, sáu bảy tên lưu manh tay cầm gậy gộc đang vây nam tử áo trắng ở giữa sân. Tên râu quai nón cướp tiền dường như là thủ lĩnh, lúc này bọc vải xanh đang đeo trên người hắn. Ngôi nhà này rõ ràng là ổ trộm cướp, tên râu quai nón cố ý dẫn nam tử áo trắng vào đây.
Khi Sở Ly Tang ung dung bước vào sân, tất cả mọi người đều có chút kinh ngạc.
Nam tử áo trắng thấy là nàng, liền hét lớn: “Ngươi mau đi đi, ở đây không liên quan đến ngươi, đừng quản ta!”
Sở Ly Tang bốc mấy hạt đậu tằm ném vào miệng, sau đó nhổ vỏ ra thật xa: “Ta mới lười quản ngươi, bản lang quân là đến xem náo nhiệt, các ngươi cứ tiếp tục.”
Đám lưu manh nhìn nhau ngơ ngác.
Tên râu quai nón nhổ một bãi nước miếng xuống đất, nhìn Sở Ly Tang: “Tiểu tử, biết điều thì cút xéo cho lão tử, đây không phải nơi xem náo nhiệt!”
“Ngươi đừng không tin, ta thật sự không phải đến cứu hắn. Ta với cái tên ngốc này có thù, chỉ muốn xem hắn bị đánh.” Sở Ly Tang vừa nhai đậu vừa cười nói, “Còn về việc đánh chết hay đánh tàn phế thì tùy các ngươi, dù sao ta đều vui cả.”
Nam tử áo trắng nghe vậy, nhất thời trợn mắt há hốc mồm.
Đám lưu manh đưa mắt nhìn nhau, đều nhìn về phía tên râu quai nón. Hắn cười lạnh một tiếng: “Ngươi tưởng hắn chết rồi thì ngươi có thể bước ra khỏi cái cửa này sao?”
“Ta không đi được sao?” Sở Ly Tang giả vờ kinh ngạc.
Tên râu quai nón cười lạnh không nói.
Sở Ly Tang gật đầu, đi tới đóng cửa viện lại, còn cài then cửa, sau đó khoanh tay, tựa lưng vào cánh cửa, nhìn mọi người: “Thế này được chưa? Muốn động thủ thì nhanh lên, đừng lề mề nữa, một lũ nam nhi đại trượng phu đánh nhau mà nói lắm lời vô ích như vậy, không thấy xấu hổ sao!”
Tên râu quai nón đầu tiên là sửng sốt, sau đó ngửa mặt cười lớn: “Tốt, tiểu tử ngươi có khí phách! Đợi ta dạy dỗ xong tên này sẽ quay lại xử lý ngươi!”
Đám lưu manh lại vây quanh nam tử áo trắng, hắn đột nhiên bày ra một tư thế: “Đều đừng qua đây! Bản lang quân chỉ muốn lấy lại tài vật các ngươi đã cướp, không muốn làm hại các ngươi, đừng ép ta động thủ!”
Mắt Sở Ly Tang khẽ sáng lên.
Chẳng lẽ nam tử này không phải không biết lượng sức mình, mà là có võ nghệ trong người? Vừa mới nghĩ vậy, hai chiếc gậy gỗ đã một trước một sau hướng về phía hắn mà đánh tới. Chỉ nghe “pạch pạch” hai tiếng, một gậy trúng lưng, một gậy trúng ngay mặt. Mặt nam tử áo trắng lập tức rách toác, máu chảy đầm đìa.
Nam tử áo trắng hét thảm một tiếng, tên râu quai nón và đám lưu manh cười rộ lên.
Sở Ly Tang thất vọng nhắm mắt lại.
“Tiểu tử!” Tên râu quai nón cười lớn, “Quỳ xuống dập đầu với lão tử ba cái, gọi một tiếng cha, nói không chừng lão tử có thể tha cho ngươi một mạng.”
Lời vừa dứt, nam tử áo trắng mặt đầy máu bỗng dưng nhổ một bãi nước miếng lẫn máu vào mặt tên râu quai nón, sau đó cũng ngửa mặt cười mấy tiếng.
Xem ra cái tên mọt sách này tuy vô dụng nhưng trong xương cốt vẫn có chút huyết tính. Sở Ly Tang thầm nghĩ.
Tên râu quai nón gạt bỏ nước miếng trên mặt, cơ mặt co giật mấy cái, sau đó quát lớn một tiếng, cây gậy thô kệch trong tay giơ cao, nhắm thẳng đỉnh đầu nam tử áo trắng.
Gậy này mà giáng xuống, mạng nhỏ của tên mọt sách kia khó mà giữ nổi! Giữa lúc ngàn cân treo sợi tóc, Sở Ly Tang đá chân phải một cái, một viên đá dưới đất bay ra, trúng ngay cổ tay tên râu quai nón, gậy gỗ “keng” một tiếng rơi xuống đất. Ngay sau đó, lại có hai viên đá bay tới, lần lượt trúng vào khoeo chân trái phải của hắn. Tên râu quai nón đau đớn kêu gào, đồng thời hai đầu gối nhũn ra, quỳ rụp xuống trước mặt nam tử áo trắng.
Biến cố này xảy ra chỉ trong chớp mắt, đám lưu manh sững sờ tại chỗ.
“Đều ngẩn ra đó làm gì? Còn không mau lên cho lão tử?!” Tên râu quai nón vừa nén đau bò dậy, vừa gào rách cả họng.
Đám lưu manh hoàn hồn, vung gậy gộc xông về phía Sở Ly Tang. Tên râu quai nón trừng mắt nhìn nam tử áo trắng một cái đầy căm hận, rồi cầm gậy gia nhập vòng chiến. Sở Ly Tang tay không tấc sắt lấy một địch đông, nhưng vẻ mặt lại vô cùng khí định thần nhàn. Nam tử áo trắng chỉ thấy một đạo bóng dáng xanh nhạt lướt đi thoăn thoắt giữa những đường gậy vun vút, nhẹ nhàng tựa cánh hồng bay, không khỏi nhìn đến ngây người.
* * *
“Chàng ngốc, ngươi nhìn cái gì đó, còn không mau chạy đi?” Sở Ly Tang hét lớn.
Lúc này nam tử áo trắng mới bừng tỉnh, định chạy ra khỏi cổng viện, nhưng thử mấy lần đều bị kình phong từ gậy gộc múa may đánh bật trở lại. Trong lúc cấp bách, hắn thấy dưới chân tường bên tay phải có đặt một chiếc thang gỗ, bèn theo thang leo lên đầu tường, sau đó lảo đảo đi đến cuối tường, vất vả trèo lên mái nhà của đại viện. Tiếp đó, hắn run rẩy mò đến mép mái hiên, định từ đây nhảy sang mái nhà bên cạnh, nhưng lại vì sợ độ cao mà luống cuống chân tay.
Đang lúc do dự, một bàn tay bỗng nhiên vỗ vào vai hắn.
Nam tử áo trắng rùng mình một cái, quay đầu lại nhìn thì ra là Sở Ly Tang. Hắn lại thò đầu nhìn xuống dưới, cổng viện đã mở toang, đám lưu manh sớm đã bị đánh chạy mất dạng, chỉ để lại một đất gậy gộc.
“Này, cầm lấy trả lại cho lão trượng kia đi!” Sở Ly Tang đưa bọc vải xanh tới.
“Là nàng đoạt lại, nên để nàng đi trả, ta không thể cướp công của người khác.” Nam tử lầm bầm.
Sở Ly Tang vừa buồn cười vừa tức giận: “Ta nói này chàng ngốc, hạng người như ngươi mà cũng dám giúp người bắt trộm sao? Ngươi không sợ giúp người chẳng thành, ngược lại còn bị bọn trộm đánh chết à?”
“Nghĩa chi sở tại, vô hoàng đa tưởng (Nghĩa ở nơi nào, không kịp nghĩ nhiều).” Nam tử nói, “Quả đúng như lời Mạnh Tử đã dạy: Thấy đứa trẻ sắp rơi xuống giếng, ai nấy đều có lòng hốt hoảng xót thương...”
“Được rồi được rồi, đừng có giở giọng sách vở với ta nữa.” Sở Ly Tang nhét bọc vải vào lòng hắn, “Mau đi trả đi, ta còn có việc!”
Nam tử không nhận, lại đẩy bọc vải ngược trở lại. Sở Ly Tang lách người né tránh, xoay người bỏ đi. Nam tử vồ hụt, chân dưới trượt một cái, kêu lên một tiếng “Á” rồi ngã nhào xuống dưới mái hiên. Sở Ly Tang kinh hãi, đột ngột quay đầu, vội vàng đưa tay phải ra, nhanh như chớp ôm lấy eo hắn. Nam tử sợ đến mặt cắt không còn giọt máu, hai tay múa loạn, vô tình một bàn tay lại chộp trúng vào ngực Sở Ly Tang.
Nam tử đột nhiên nhận ra điều gì đó, tay như bị bỏng lập tức rụt về.
Lúc này, mặt Sở Ly Tang đã đỏ bừng đến tận mang tai. Nàng vừa thẹn vừa giận, theo bản năng giơ tay lên, “chát” một tiếng tặng cho nam tử một cái tát nảy lửa.
Nam tử áo trắng ôm lấy gò má nóng rát, ngơ ngác nhìn Sở Ly Tang từ trên mái nhà nhảy xuống, hạ xuống nhẹ nhàng giữa sân, rồi không thèm quay đầu lại mà bước ra khỏi cổng viện.
Cúi đầu nhìn bàn tay gây họa của mình, nam tử áo trắng hồi lâu vẫn không thể hoàn hồn.
Bỗng nhiên, hắn giơ tay lên, tự tát mình một cái.
Khi Sở Ly Tang từ đầu tường nhảy vào hậu viện nhà mình, Lục Tụ đã sốt ruột đến mức xoay như chong chóng.
“Ái chà tiểu thư, sao giờ người mới về, chủ mẫu đã đến tìm người ba lần rồi đó!” Lục Tụ giậm chân tức tối.
Sở Ly Tang cười hối lỗi, kéo tay nàng chạy thẳng về khuê phòng, sau đó bảo Lục Tụ canh giữ ở cửa, còn mình thì chạy vào trong phòng, đóng cửa lại, bắt đầu cuống cuồng tháo mũ cởi tóc. Chẳng ngờ chiếc mũ sa lại bị tóc quấn chặt, càng vội càng không gỡ ra được, khiến Sở Ly Tang tức giận kêu liên mồm thật đáng chết.
Bên ngoài phòng, Sở Anh Nương đi dọc theo hành lang tới, vẻ mặt đầy khó chịu. Lục Tụ thầm kêu khổ trong lòng, đành liều mạng tiến lên đón, nói lớn: “Chủ mẫu xin đừng lo lắng, tiểu thư thực sự không sao. Người chỉ là ham ngủ thôi, nô tỳ đã nói với người mấy lần là mặt trời chiếu đến mông rồi, vậy mà người chỉ lật người một cái là lại ngáy khò khò...”
“Lục Tụ,” Sở Anh Nương sa sầm mặt mày, “Ta đã bảo ngươi bao nhiêu lần rồi, nói năng phải chú ý từ ngữ. Con gái con lứa, mở miệng ra là lời lẽ thô tục, còn ra thể thống gì nữa!”
Lục Tụ cười làm lành: “Phải phải phải, chủ mẫu dạy bảo rất đúng. Nô tỳ quá ngốc, cứ mãi không nhớ được những lời người dạy, cái từ đó nói thế nào ấy nhỉ...”
“Phải nói là ‘nhật thượng tam can’.”
“Đúng đúng đúng, nhật thượng tam can, nhật thượng tam can!” Lục Tụ cười hì hì, trong lòng thầm nhủ: Tiểu thư ơi người mà không nhanh lên, cái mông của Lục Tụ này chắc chắn sẽ phải ăn bản tử mất!
Sở Anh Nương mỉm cười, đưa tay gõ nhẹ vào trán Lục Tụ, vòng qua nàng định đẩy cửa bước vào.
Lục Tụ kinh hãi, muốn ngăn mà không dám, cuống cuồng giậm chân. Ngay khi tay của Sở Anh Nương chạm vào cánh cửa, trong phòng cuối cùng cũng truyền ra giọng nói uể oải của Sở Ly Tang: “Sao mà ồn ào thế? Có phải mẹ đến không?”
Lục Tụ thở phào nhẹ nhõm, vỗ vỗ lồng ngực.
Sở Anh Nương bước vào, vén bức rèm châu của khuê phòng lên, thấy Sở Ly Tang đang quấn mình kín mít trong chăn nệm, chỉ để lộ khuôn mặt.
“Mẹ, mẹ với Lục Tụ ở ngoài kia nói gì thế, ồn chết đi được!” Sở Ly Tang lầm bầm, ngáp một cái thật dài.
Sở Anh Nương ngồi xuống mép giường, nhìn nàng: “Tang nhi, con học làm nữ công là đúng, nhưng cũng không thể làm đến muộn như vậy chứ!”
“Phải phải, mẹ nói đúng, lần sau con không dám thế nữa.” Sở Ly Tang cười xòa, làm mặt quỷ, “Mẹ, mẹ đi làm việc đi, con phải thay quần áo đây.”
“Thay thì cứ thay thôi, làm gì mà phải đuổi mẹ đi?”
“Người ta đã hai mươi tuổi rồi, mẹ còn bắt con thay đồ trước mặt mẹ sao?”
“Được được được, con lớn rồi, con gái lớn không quản được nữa rồi!” Sở Anh Nương cười định đứng dậy, bỗng nhiên phát hiện trên trán và chóp mũi nàng lấm tấm những giọt mồ hôi mịn, đôi lông mày lập tức khẽ nhíu lại, “Sao con lại ra nhiều mồ hôi thế này?”
Sở Ly Tang giật mình: “Ồ, có lẽ là... chăn nệm dày quá chăng.”
“Dày mà con còn đắp kín mít thế kia?” Sở Anh Nương vừa nói vừa định lật chăn của nàng lên.
Sở Ly Tang “A” một tiếng, hai tay giữ chặt lấy mép chăn từ bên trong: “Mẹ, giờ trên người con toàn là mồ hôi, mẹ lật chăn ra con sẽ bị cảm lạnh mất!”
Sở Anh Nương nhìn nàng đầy ẩn ý, hồi lâu mới mỉm cười: “Vậy được rồi, con thay quần áo xong thì mau ra ngoài, ăn cơm xong mẹ sẽ tiếp tục dạy con đọc kinh, hôm nay phải học đến ‘Lễ Ký’ rồi.” Nói xong liền bước ra ngoài.
Mãi đến khi nghe tiếng mẹ khép cửa đi ra, Sở Ly Tang mới thở hắt ra một hơi dài.
Nàng đột ngột hất chăn sang một bên, chỉ thấy bộ thanh y trên người sớm đã bị mồ hôi thấm ướt, mà đôi ủng da đen Lục Hợp vẫn còn mang nguyên trên chân.
Lục Tụ vừa lúc chạy vào, nhìn thấy cảnh này thì kinh ngạc đến mức bịt chặt miệng.
Phủ đệ của Ngụy Vương Lý Thái nằm ở góc Tây Nam của phường Diên Khang, kinh thành Trường An, diện tích rộng gần hai trăm mẫu, lầu các trùng điệp, mái hiên cong vút, vàng son lộng lẫy.
Theo quy chế nhà Đường, phàm là vương công quý thích và quan lại từ tam phẩm trở lên đều có thể mở cổng phủ trực tiếp ra tường phường để tiện việc ra vào, mà không cần phải đi qua cổng phường. Chính vì thế, Ngụy Vương phủ đã mở một chính môn ở tường phường phía Nam, lại mở thêm một biên môn ở tường phường phía Tây. Từ chính môn Ngụy Vương phủ đi ra rẽ trái, đi về phía Bắc qua ba ngã tư là đến Hoàng thành; từ biên môn phía Tây đi ra, đi về phía Bắc qua một ngã tư là đến Tây Thị; giao thông vô cùng thuận tiện, vị trí địa lý hết sức ưu việt.
Một buổi chiều hạ tuần tháng Hai, gần đến giờ Dậu, một cỗ xe ngựa đã kịp tiến vào Ngụy Vương phủ từ cửa Tây trước khi tiếng trống chiều vang lên.
Người đến là Hoàng môn Thị lang Lưu Kỵ, phó trưởng quan của Môn Hạ tỉnh.
Lưu Kỵ, tự Tư Đạo, gần năm mươi tuổi, bình thường trầm tĩnh ít nói, nhưng ở trong triều lại nổi tiếng là người cương trực dám can gián, được Lý Thế Dân trọng dụng. Không ít người khẳng định rằng, trong vòng ba năm nữa, ông ta chắc chắn có thể thăng nhậm chức trưởng quan cao nhất của Môn Hạ tỉnh — Thị trung.
Xe ngựa từ cửa Tây đi vào một đại viện, vừa mới dừng hẳn, Tư mã Ngụy Vương phủ là Tiêu Hạc Niên vốn đã đợi sẵn ở nội môn liền rảo bước xuống bậc thềm đón tiếp.
Lưu Kỵ mặc thường phục, bước xuống xe ngựa.
“Tư Đạo huynh, sao giờ huynh mới tới, Ngụy Vương điện hạ đã đợi sốt ruột lắm rồi.” Tiêu Hạc Niên mỉm cười chắp tay.
Lưu Kỵ đáp lễ: “Làm phiền Hạc Niên huynh đích thân ra đây đón tiếp, Lưu mỗ sao dám đương!”
Hai người hàn huyên đôi câu rồi cùng đi về phía nội môn.
“Điện hạ gấp rút tìm ta tới, rốt cuộc là có chuyện gì?” Lưu Kỵ hỏi.
“Chuyện vui, đại hỷ sự!” Tiêu Hạc Niên mặt mày rạng rỡ.
Lưu Kỵ liếc nhìn ông ta một cái, không nói gì.
Người ta thường nói người gặp chuyện vui thì tinh thần sảng khoái. Gần đây Ngụy Vương nhờ bộ “Quát Địa Chí” mà nhận được sự sủng ái nồng hậu của Hoàng đế, liên tiếp được ban thưởng, cả triều đình lẫn dân gian đều chú ý. Vì lẽ đó, bản thân Ngụy Vương đương nhiên là đắc ý tràn đầy, ngay cả đám quan lại lớn nhỏ trong phủ ông ta cũng ai nấy hớn hở, chỉ hận không thể dán chữ “hỷ” lên trán suốt cả ngày.
Lưu Kỵ có chút không cho là đúng.
Theo cách nhìn của ông ta, càng là lúc này thì càng phải giữ được bình tĩnh. Bởi lẽ, đoạt đích là một con đường hiểm nguy và trắc trở khôn lường, chỉ cần một chút sơ sẩy là có thể rơi xuống vực sâu, vạn kiếp bất phục!
Khi Lưu Kỵ theo Tiêu Hạc Niên bước vào chính đường, thấy Ngụy Vương Lý Thái đang cùng Trường sử trong phủ là Đỗ Sở Khách nói chuyện gì đó, đồng thời phát ra một tràng cười lớn.
Lông mày Lưu Kỵ khẽ nhíu lại một chút.
Thấy Lưu Kỵ đến, Lý Thái và Đỗ Sở Khách đứng dậy đón tiếp. Mọi người lại hàn huyên một hồi rồi mới ngồi xuống.
“Lưu Thị lang, ngươi đoán xem sáng nay phụ hoàng triệu ta vào cung đã nói gì với ta?” Lý Thái mắt mày rạng rỡ, vẻ mặt đầy bí ẩn.
Lưu Kỵ mỉm cười nhẹ nhàng: “Vàng bạc gấm vóc mà Thánh thượng ban cho Điện hạ gần đây đã nhiều vô kể, chuyện có thể khiến Điện hạ cùng chư vị vui mừng đến thế, ta nghĩ chắc chắn là một sự vinh sủng đặc biệt khác ngoài tiền tài.”
Lý Thái cười lớn sảng khoái: “Không hổ là Lưu Thị lang, nói một câu trúng ngay phóc!”
“Tư Đạo huynh,” Đỗ Sở Khách tiếp lời, “Vậy huynh thử đoán xem, cụ thể là sự vinh sủng như thế nào?”
Đỗ Sở Khách hơn năm mươi tuổi, là em trai của khai quốc công thần Đỗ Như Hối, tự Sơn Thực, thời trẻ từng ẩn cư tại núi Tung Sơn, chí hướng rất cao, tự phụ là bậc tài năng làm Tể tướng. Năm Trinh Quán thứ tư, Đỗ Như Hối lâm bệnh qua đời, Đỗ Sở Khách phụng chiếu nhập sĩ, từng giữ chức Thứ sử Bồ Châu, hiện đang giữ chức Công bộ Thượng thư kiêm Trường sử Ngụy Vương phủ, là tâm phúc mưu sĩ được Lý Thái trọng dụng nhất.
“Sơn Thực huynh, huynh đừng có úp úp mở mở nữa, Lưu mỗ mà đoán tiếp thì e là có hiềm nghi suy đoán thánh tâm mất.” Lưu Kỵ nói.
Đỗ Sở Khách lắc đầu cười nói: “Tư Đạo huynh như vậy thì thật mất vui. Ở triều đình cẩn ngôn thận hạnh là đúng, nhưng ở đây, huynh cũng cần phải cẩn trọng dè dặt thế sao? Chẳng lẽ ngay cả Điện hạ và chúng ta mà huynh cũng phải đề phòng?”
Lưu Kỵ mỉm cười không đáp.
Hai người bọn họ tuy cùng là tâm phúc của Ngụy Vương nhưng tính cách lại không mấy hợp nhau. Lưu Kỵ thấy Đỗ Sở Khách phô trương, Đỗ Sở Khách lại cho rằng Lưu Kỵ nhút nhát, cộng thêm việc cả hai đều có ý định trở thành mưu thần số một dưới trướng Ngụy Vương, nên ngoài mặt hay trong tối luôn có sự kèn cựa lẫn nhau.
“Được rồi được rồi, cũng nên nói vào chuyện chính.” Lý Thái đứng ra dàn xếp, “Hạc Niên, ngươi hãy nói cho Lưu Thị lang nghe đi.”
Tiêu Hạc Niên tằng hắng một cái: “Chuyện là thế này, sáng nay Điện hạ phụng chỉ vào cung, vừa mới bước vào Cam Lộ điện, Thánh thượng đã cho lui tả hữu, mật đàm với Điện hạ: Để thuận tiện cho Điện hạ vào cung hầu hạ, chẳng bao lâu nữa sẽ để Điện hạ chuyển đến cư ngụ tại Võ Đức điện trong cung. Đương nhiên, chuyện này tạm thời chưa nên rò rỉ ra ngoài, Thánh thượng nói ngài sẽ chọn ngày chính thức hạ chỉ và tuyên bố công khai tại buổi triều hội.”
* * *
Võ Đức điện nằm ở phía đông Thái Cực Cung, chỉ cách Đông Cung một bức tường, so với nơi ở của Lý Thế Dân còn gần hơn cả Đông Cung. Ngụy Vương một khi dời vào điện này, hằng ngày có thể “tham phụng vãng lai” với hoàng đế, có nhiều cơ hội tham gia quân quốc đại chính hơn cả Thái tử, từ đó nắm giữ thêm nhiều quân bài chính trị. Đối với Lý Thái đang một lòng muốn đoạt ngôi Thái tử lúc này mà nói, đây không nghi ngờ gì là tin mừng bằng trời.
Sau khi nói xong chuyện này, Lý Thái, Đỗ Sở Khách và Tiêu Hạc Niên đều đồng loạt nhìn chằm chằm vào mặt Lưu Kỵ, chờ xem phản ứng của hắn. Ngoài dự liệu của ba người, Lưu Kỵ lại không hề có phản ứng, giống như chưa nghe thấy gì.
“Lưu Thị lang, ngươi có đang nghe không?” Lý Thái hồ nghi nhìn Lưu Kỵ.
Một lát sau, Lưu Kỵ mới lên tiếng: “Đương nhiên, Điện hạ, chuyện trọng đại như vậy, sao ta có thể không nghe?”
“Vậy, Thị lang có ý kiến gì về việc này?”
“Điện hạ muốn nghe lời thật lòng không?”
“Đương nhiên.”
“Đối với việc này, tại hạ một mặt thấy mừng, một mặt thấy lo.”
Đỗ Sở Khách âm thầm cười lạnh một tiếng.
Tiêu Hạc Niên trầm tư suy nghĩ.
Lý Thái cau mày: “Thị lang có thể nói rõ hơn được không?”
Lưu Kỵ gật đầu, nhưng mặt vẫn không chút biểu cảm: “Nói về chuyện mừng trước. Thánh thượng sủng ái Điện hạ, triều dã đều biết, không cần bàn cãi, nhưng lần này lại chủ động đề xuất để Điện hạ dời vào Võ Đức điện, tuyệt đối không phải là vinh sủng bình thường. Nói cách khác, đây là một tín hiệu trọng đại, vừa là ám thị Điện hạ, cũng là ám thị mãn triều văn võ và thần dân thiên hạ: Ngụy Vương điện hạ cách Đông Cung chỉ còn một bước chân nữa thôi. Nếu Thái tử vô đức, thì người duy nhất trong thiên hạ có tư cách vào làm chủ Đông Cung chính là Điện hạ! Nói thấu triệt hơn, một khi bước ra bước này, Điện hạ chính là 'ẩn hình trữ quân' bất ngôn tự minh của Đại Đường ta rồi. Đó là chuyện mừng.”
Lý Thái nghe mà tâm hoa nộ phóng, đôi mắt sáng rực lên.
“Lại nói về nỗi lo. Chính vì hiện giờ Điện hạ đang được thánh quyến chính long, thanh thế lấn át cả Thái tử, nên càng dễ gây ra sự đố kỵ và phản kích từ Đông Cung. Vì vậy lúc này, so với ngày thường lại càng phải kín tiếng, thao hối, cẩn ngôn thận hạnh, như lâm như lý. Điều tại hạ lo lắng là Điện hạ mải đắm chìm trong niềm vui mà quên mất những điều này. Thử xem từ xưa đến nay, qua các triều đại, những chuyện lạc cực sinh bi, vì đắc ý vong hình mà công khuy nhất quỹ, há chẳng ít sao?!”
Sắc hỉ trên mặt Lý Thái dần nhạt đi, có chút không tự nhiên.
Đỗ Sở Khách cười lạnh một tiếng: “Tư Đạo huynh, những lời này của ngươi có phần hơi nguy ngôn tùng thính rồi đó?”
“Sơn Thực huynh nói đúng rồi.” Lưu Kỵ nhìn hắn, “Thường dùng lời giật gân để dọa người, chính là bản lĩnh lập thân của Lưu mỗ! Những lời cẩm thượng thiêm hoa thì ai mà chẳng biết nói? Cần gì đến lượt Lưu mỗ đa sự?”
Đỗ Sở Khách bị chặn họng, đang định cãi lại, Lý Thái bỗng nói: “Lưu Thị lang nói rất đúng! Đây chính là mục đích bản vương vội vã mời ngươi đến. Những lúc thế này, đúng là cần có người dội cho bản vương một gáo nước lạnh.”
“Điện hạ, đã nói đến đây, ta còn muốn dội thêm cho ngài một gáo nước lạnh nữa.” Lưu Kỵ nói.
Lý Thái sảng khoái cười một tiếng: “Thị lang cứ nói đừng ngại!”
“Chuyện Điện hạ sắp dời vào Võ Đức điện, hiện có bao nhiêu người biết?”
Lý Thái dang hai tay: “Trừ bản vương, chỉ có ba vị các ngươi.”
Lưu Kỵ lắc đầu: “E rằng không chỉ có vậy.”
“Thị lang có ý gì?” Lý Thái nhướng mày nhìn Lưu Kỵ.
“Thường ngôn rằng vách có tai, phủ Điện hạ đông người như vậy...”
“Tư Đạo huynh,” Đỗ Sở Khách biến sắc, “Ngươi nói vậy là có ý gì? Chẳng lẽ ngươi nghi ngờ ta và Hạc Niên huynh sẽ tiết lộ cơ mật?”
“Tuyệt không có ý đó!” Lưu Kỵ nói, “Ta chỉ muốn nhắc nhở hai vị...”
“Thế thì là ngươi lo xa rồi.” Đỗ Sở Khách kéo dài giọng, “Đỗ mỗ thiểm vi Trường sử của vương phủ, chút chuyện nhỏ này không cần ngươi phải điều giáo!”
“Tư Đạo huynh nhắc nhở cũng là đúng.” Tiêu Hạc Niên nói, “Chuyện này quả thực quan hệ trọng đại, vạn nhất rò rỉ, Đông Cung nhất định sẽ không tọa thị...”
Đỗ Sở Khách không vui liếc nhìn Tiêu Hạc Niên một cái.
Tiêu Hạc Niên vội vàng cấm thanh.
Đỗ Sở Khách là Trường sử, tương đương với tổng quản vương phủ, Tiêu Hạc Niên là Tư mã, chỉ là phó thủ của hắn. Cộng thêm việc Đỗ Sở Khách tính tình mạnh mẽ, Tiêu Hạc Niên bản tính khiêm hòa, nên dù trong bất kỳ trường hợp lớn nhỏ nào, Đỗ Sở Khách luôn lấn lướt Tiêu Hạc Niên một bậc.
“Điện hạ, chuyện này của ngài, triều thần bình thường dù có biết cũng không ngại, vì bọn họ sẽ không giúp Thái tử, mà dù muốn giúp cũng không khuyên nổi hoàng thượng.” Lưu Kỵ thần sắc ngưng trọng, “Chỉ sợ là trước khi Thánh thượng công khai hạ chỉ, nếu để một người biết trước được cơ mật này, thì chuyện này e là sẽ xôi hỏng bỏng không.”
“Ai?” Lý Thái vẻ mặt căng thẳng.
Đỗ Sở Khách và Tiêu Hạc Niên cũng đồng loạt nhìn về phía Lưu Kỵ.
“Ngụy Trưng.”
Không ai chú ý thấy, khi lời Lưu Kỵ vừa dứt, ánh mắt Tiêu Hạc Niên khẽ lóe lên một cái.
Chương sau: Quyển 1 - Chương 3: Ám lưu